MUỒNG TRÂU - nhuận tràng, chữa táo bón, vàng da, hắc lào, herpes loang vòng

MUỒNG TRÂU - nhuận tràng, chữa táo bón, vàng da, hắc lào, herpes loang vòng

  20/06/2018

  Ngô Đức Phương

Tên khoa học: Senna alata (L.) Roxb., 1832

Tên đồng nghĩa: Cassia alata L., 1753

Tên khác: Muồng lác, cây lác; ringworm shrub, winged, ringworm senna, candelabra busb, craw craw plant (Anh); dartrier, casse ailé, léré ailé (Pháp)

Họ:  Vang – Caesalpiniaceae

BỘ PHẬN DÙNG

Lá và thân cành, dùng tươi hay phơi khô.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Lá, quả muồng trâu chứa các dẫn chất antraquinon với tỷ lệ 2,2% trong quả và 3,4% trong lá. Cành chứa dẫn chất emodin.

Lá còn chứa flavonglucosid là kaempferol- 3 -0 -sophorosid (CA, 113, 145032 y).

Hạt chứa 15% protein, các acid không no trong dầu béo chiếm khoảng 60%. Ngoài ra còn có các chất vô cơ như Ca, Mg, Na, Mn…

Rễ chứa sitosterol.

CÔNG DỤNG

Thường được dùng chữa táo bón, nhiều đờm; phù thũng, đan gan, vàng da. Lá dùng trị viêm da thần kinh, hắc lào, thấp sang, ngứa lở người da, mụn nhọt sưng lở (lấy cành, lá, rễ hoặc hạt sắc nước uống).

Bột lá hoặc bột thân uống hằng ngày với liều thấp (4-8g) dùng nhuận tràng và với liều cao (10-12g) dùng để xổ.

Hạt dùng với liều 4-5g để nhuận tràng, với liều cao 5-8g dùng để xổ.

Dùng ngoài chữa hắ lào, bệnh tokelo, herpes loang vòng (lá muống trâu giã nát, lấy nước bôi hoặc xát chữa bệnh ngoài da; nếu thêm một ít muối hoặc dịch quả chanh, tác dụng mạnh hơn). Hoặc có thể chế thành cao lỏng để bôi.

Lá muồng trâu còn dùng trị ghẻ cho người và gia súc (lá nấu nước tắm và xát vào chỗ bị ghẻ).

Lưu ý: Người có thai khi dùng trong phải cẩn thận.

KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN

Cành, lá muồng trâu thu hái vào cuối mùa hè, trước lúc ra hoa; băm nhỏ, dùng tươi hay phơi khô. Bảo quản nơi khô ráo.

Để làm thành dạng cao nước bôi ngoài cần được tiến hành các bước như sau:

Lấy 250 – 300 gam lá tươi giã nát, hoà lẫn với 1 lít nước sôi, thêm 10 gam natri fluorid; ngâm trong 24 giờ rồi gạn lấy nước. Bã của lá ngâm tiếp với cồn 900 trong 24 giờ (đậy kín), sau đó lọc lấy phần dịch chiết này, trộn với nước ngâm lần 1, cô cách thuỷ sau 12 giờ sẽ được dạng cao lỏng, làm thuốc bôi chữa bệnh ngoài da.

GIÁ TRỊ KINH TẾ, KHOA HỌC VÀ BẢO TỒN

Muồng trâu hiện chưa trở thành loại dược liệu được khai thác và thương mại hoá phổ biến. Nhưng cây thuốc này lại được sử dụng theo kinh nghiệm – mà hầu như đã trở thành quen thuộc trong cộng đồng.

Những kết quả nghiên cứu về mặt dược lý đã khẳng định dịch chiết lá muồng trâu có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loại nấm ký sinh, thuộc các chi TrichophytonMicrosporum … Đó là cơ sở khoa học để tiếp tục nghiên cứu, chế tạo các loại thuốc chữa bệnh ngoài da do nấm gây nên, nhất là ở vùng nhiệt đới như Việt Nam.

Muồng trâu là cây thuốc phân bố tương đối phổ biến ở nhiều địa phương. Trước mắt chưa cần phải đưa vào diện ưu tiên bảo tồn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nhiều tác giả (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam; Tập II. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội; trang 319 – 322; 2.  Anny.Victor Towan – Purba (1999); Senna Lillen. In: L. S. de Padua et al. (Editors); Plants Resources of South - East Asia, No12 (1) Med. and Poisonous Plants 1, Bakhuys Publishers, Leiden, Netherland; pp.442 – 446.

Đóng góp ý kiến