Giá trị làm thuốc của cây An xoa

Giá trị làm thuốc của cây An xoa

  28/02/2020

  Ngô Đức Phương

Tên tiếng Việt: Tổ kén, Dó lông, Dó tròn, Đuôi chồn, Thau kén (Tày), Hất exus (Kho), Thao kén cái, An xoa

Tên khoa học: Helicteres hirsuta Lour.

Họ thực vật: Sterculiaceae

----------------------

THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

Nghiên cứu hóa sinh từ dịch chiết cây An xoa (Helicteres hirsuta Lour.) thu tại Việt Nam đã phân lập và làm sáng tỏ cấu trúc của 12 chất chuyển hóa thứ cấp gồm axit 3-O-trans-caffeoylbetulinic (1), axit 3β-benzoylbetulinic (2), axit methyl ester (3), axit betulinic (4), axit lulin ), Axit 4-hydroxybenzoic (6), 3,4-dihydroxybenzoic axit metyl este (7), axit 4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoic (8), 5,8-dihydroxy-7,4'-dimethoxyflavone (9 ), isoscutellarein 4'-methyl ether 8-O--D-glucopyranoside (10), methyl caffeate (11) và stigmasterol (12). Trong đó, 8 hợp chất đã được thử nghiệm về độc tính tế bào đối với 5 dòng tế bào ung thư (Hela, HepG2, SK-LU-1, AGS và SK-MEL-2). Kết quả cho thấy các hợp chất (1, 3-5, 9) có hoạt động vừa phải [1]. 

Cây An xoa Helicteres hirsuta Lour. được coi là một loại thuốc thảo dược để điều trị bệnh sốt rét và tiểu đường nhưng các nghiên cứu hạn chế đã được tiến hành về đặc tính chống ung thư và kháng khuẩn. Trong nghiên cứu này, các đặc tính kháng khuẩn và chống ung thư in vitro của chiết xuất từ ​​lá, thân và hai phân đoạn nhỏ của chúng (các phân đoạn butanol được làm giàu bằng saponin) được điều chế từ An xoa đã được chứng minh. Các thử nghiệm MTT và CCK-8 đã được sử dụng để đánh giá các đặc tính chống ung thư trong ống nghiệm của họ chống lại các dòng tế bào ung thư khác nhau. Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán đĩa và giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được xác định. Kết quả cho thấy các phân số được làm giàu bằng saponin từ lá và thân cây An xoa có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất đối với E. coli (giá trị MIC tương ứng là 2,50 và 5,00 mg / mL) và S. lugdunensis (giá trị MIC là 0,35 và 0,5 mg / mL, tương ứng). Điều quan trọng là, các phân số được làm giàu bằng saponin này có hoạt tính chống ung thư mạnh in vitro đối với một loạt các dòng tế bào ung thư bao gồm MIA PaCa-2 (tuyến tụy); A2780 (buồng trứng); H460 (phổi); A431 (da); Du145 (tuyến tiền liệt); HT29 (đại tràng); MCF-7 (vú); SJ-G2, U87, SMA (glioblastoma) và BE2-C (neuroblastoma) ở liều thấp (giá trị GI50 là 0,36-11,17 17g / mL). Chúng đặc biệt thể hiện hoạt động chống ung thư tuyến tụy mạnh trong ống nghiệm chống lại các tế bào MIA PaC-2, BxPC-3 và CFPAC-1 với giá trị IC50 là 1,80-6,43 Miếng / mL. Phát hiện này cung cấp bằng chứng khoa học về hoạt tính gây độc tế bào của các chất chiết xuất từ ​​lá và thân cây An xoa và gợi ý các nghiên cứu tiếp theo để phân lập các hợp chất hoạt động để phát triển các tác nhân chống ung thư mới từ các chiết xuất thực vật này [2].

Trong nghiên cứu về kiểm tra các hoạt động sinh học của 5 phân đoạn methanol của rễ An xoa. Kết quả cho thấy, phần ethyl acetate có hàm lượng hợp chất phenolic và flavonoid cao nhất (220,9 ± 15,67 mg GAE, tương đương axit gallic / g trọng lượng khô và 23,03 ± 0,97 mg QE, tương đương quercetin / g trọng lượng khô). Các phân đoạn từ rễ An xoa thể hiện các hoạt động chống oxy hóa, kháng khuẩn và chống ung thư. Phân đoạn ethyl acetate cho thấy hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất thông qua khả năng thu nạp 1,1diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) (nồng độ ức chế tối đa một nửa, giá trị IC50 là 0,17 ± 0,023 mg / ml). Phân đoạn etyl acetate từ rễ An xoa cũng cho thấy khả năng khử mạnh nhất (0,071 ± 0,009 mg / ml) và độc tính tế bào trên các dòng tế bào KB của người (IC50 = 3,23 μg / ml). Ngoài ra, các phân số từ rễ An xoa có hoạt tính ức chế cao chống lại vi khuẩn gram dương là Staphylococcus aureus và Lactobacillus fermentum. Kết quả cho thấy tiềm năng khai thác các hợp chất hoạt tính sinh học từ rễ An xoa, đặc biệt là phân đoạn ethyl acetate và ứng dụng của nó trong y học và dược phẩm. Đây là báo cáo đầu tiên về thành phần chất chuyển hóa thứ hai và các hoạt động sinh học của rễ An xoa [3].

Phân đoạn theo hướng độc tính tế bào của thân cây An xoa thu ở Indonesia, đã phân lập và xác định được sáu lignan, cụ thể là (+/-) - pinoresinol, (+/-) - medioresinol, (+/-) - syringaresin , (-) - boehmenan, (-) - boehmenan H và (+/-) - rượu trans-dihydrodiconiferyl. Trong số các phân lập này, (+/-) - pinoresinol thể hiện tác dụng gây độc tế bào mạnh khi được đánh giá dựa trên một nhóm nhỏ các dòng tế bào ung thư [4].

CÔNG DỤNG

Ở Việt Nam, cây An xoa được dùng chữa sởi, ỉa chảy, lỵ, lở ngứa, đái dắt (rễ, lá). Rễ chữa sốt rét, cảm mạo và rắn cắn [5, 6].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quang DN, Pham CT, Le LTK, Ta QN, Dang NK, Hoang NT, Pham DH. Cytotoxic constituents from Helicteres hirsuta collected in Vietnam.

2. Pham HNT, Sakoff JA, Bond DR, Vuong QV, Bowyer MC, Scarlett CJ. In vitro antibacterial and anticancer properties of Helicteres hirsuta Lour. leaf and stem extracts and their fractions.

3. Diem Thi Thuy Dung, Trinh Huyen Trang, Le Thi Khanh Linh, Dao Van Tan, Le Thi Phuong Hoa. Second metabolites and antioxidant, antimicrobial, anticancer activities of Helicteres hirsuta root extract
4. 
Chin YW, Jones WP, Rachman I, Riswan S, Kardono LB, Chai HB, Farnsworth NR, Cordell GA, Swanson SM, Cassady JM, Kinghorn AD. Cytotoxic lignans from the stems of Helicteres hirsuta collected in Indonesia.

5. Viện Dược liệu. Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam.

6. Võ Văn Chi. Từ điển cây thuốc Việt Nam.

 

 

 

 

Đóng góp ý kiến