Chè dung

Mã số sản phẩm :
Liên hệ
Tên khác: Dung lá trà, Cây lượt, Du đất, Dung sạn Tên khoa học: Symplocos laurina (Retz) Wall. Họ thực vật: Symplocaceae. CÔNG DỤNG: Nhân dân ở nhiều vùng đã dùng lá dung làm chè uống cho tiêu cơm, chữa đau bụng, tiêu chảy. Lá dung được dùng chữa đau dạ dày da toan, ngày dừng 15-30g là khô, sắc uống. Lá dung cũng được dùng trị bỏng bằng cách rửa sạch vết bỏng, tẩm nước sắc lá dung vào băng gạc, đắp ngày 1 lần. Rễ dung...

Tên khác: Dung lá trà, Cây lượt, Du đất, Dung sạn

Tên khoa học: Symplocos laurina (Retz) Wall. 

Họ thực vật: Symplocaceae.

CÔNG DỤNG:

  • Nhân dân ở nhiều vùng đã dùng lá dung làm chè uống cho tiêu cơm, chữa đau bụng, tiêu chảy.
  • Lá dung được dùng chữa đau dạ dày da toan, ngày dừng 15-30g là khô, sắc uống. Lá dung cũng được dùng trị bỏng bằng cách rửa sạch vết bỏng, tẩm nước sắc lá dung vào băng gạc, đắp ngày 1 lần.
  • Rễ dung có tác dụng giải cảm sốt, tiêu khát, giảm đau, chữa sốt rét cơn và đau lưng gối. Ngày dùng 10-20g vỏ rễ khô, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần. Vỏ rễ nướng hơi cháy, giã nhỏ, sắc uống chữa phụ nữ khi đẻ bị tích máu tử cung gây đau bụng.
  • Trong y học dân gian Ấn Độ, vỏ dung có tác dụng làm săn được dùng điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng, bệnh gan và phù, viêm mắt và viêm kết mạc. Vỏ dung còn được dùng để điều trị chứng chảy máu lợi, lậu, rong kinh và những rối loạn tử cung khác. Mỗi lần uống 1g, ngày 3-4 lần, dưới dạng bột hay thuốc sắc. Còn dùng nước sắc vỏ dung để rửa vết loét. Vỏ dung có trong thành phần một bài thuốc dân gian của Ấn Độ trị rối loạn về tiết niệu và phù. Lá dung tươi giã nát, nấu với dầu, đắp chữa bệnh về da đầu.

Mỗi ngày dùng 15-20g sắc nước uống thay nước hàng ngày, có thể phối hợp với các vị thuốc khác trong bài thuốc chữa đau dạ dày: hương phụ, mai mực, kê nội kim, thanh mộc hương...

(Theo duoclieutuelinh vn)

Sản phẩm liên quan