Cây Vòi voi chữa đau nhức xương

Cây Vòi voi chữa đau nhức xương

  27/04/2018

  Ngô Đức Phương

Tên khác: Dền voi, Nam độc hoạt, Thiên giới thảo, Đại vĩ dao, Co nam (Thái)

Tên khoa học: Heliotropium indicum L.

Họ: Vòi voi (Boraginaceae)

Bộ phận dùng

Toàn cây. Thu hái cây, rễ quanh năm, chủ yếu vào mùa hè thu, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô dùng dần.

Thành phần hóa học

Toàn cây vòi voi có indicin, acetylindicin, indicinin, echinatin, supinin, heliotrin, lasiocarpin, lasiocarpin N-oxyd, eleurin, indicin N- oxyd, cholinasterol. Ngoài ra còn có β-sitosterol, lupeol, β-amyrin và β-sitosterol glucosid.

Trong lá và cụm hoa có spermin, spermidin, putrescin, homospermidin, retronecin, supinidin, trachelanthamidin.

Tác dụng dược lý

Các alcaloid pyrrolizidin trong cây vòi voi có tác dụng độc trên động vật, gia súc và lẻ tẻ trên người.

Các alcaloid indicin - N - oxyd trong vòi voi có hoạt tính ức chế carcinom - W - 256 ở chuột cống trắng và bệnh bạch cầu L - 121 ở chuột nhắt trắng.

Trong mô hình gây vết thương bằng đường rạch, cho thấy vòi voi có tác dụng tốt trong giai đoạn tái tạo làm lành vết thương. Ngoài ra, vòi voi cũng có tác dụng chống viêm.

Công dụng

Cây thường dùng để trị phong thấp sưng khớp, lưng gối nhức mỏi, loét cổ họng bạch cầu, viêm phổi, viêm mủ màng phổi, ỉa chảy, lỵ, viêm tinh hoàn, nhọt sưng tấy và viêm mủ da. Liều dùng 15 - 30 g dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài lấy cây tươi giã nát đắp trị mẩn ngứa, nhiễm khuẩn ecpet mảng tròn, rắn cắn, sang dương thũng độc.

Ở một số nước Đông Nam Á, lá cây vòi voi được dùng trị hột cơm, mụn cóc và làm thuốc để đắp trị khối u. Ở Indonesia, nước sắc lá trị bệnh tưa, bệnh do nấm Candida. Ở Lào và Campuchia, toàn cây vòi voi được dùng dưới dạng thuốc sắc uống hoặc thuốc đắp trị viêm, sưng tấy, bong gân, thâm tím, đụng giập, viêm họng, áp xe và thấp khớp; thuốc đắp lá trị herpes và thấp khớp. Ở Philippin, rễ được dùng làm thuốc điều kinh, nước hãm lá để rửa vết thương và mụn nhọt, lở loét. Ở Thái Lan, nước sắc phần trên mặt đất là thuốc hạ sốt, chống viêm và rễ trị bệnh về mắt.

Ở Ấn Độ, cây vòi voi được dùng làm mềm da, lợi tiểu, trị vết thương và dùng đắp tại chỗ trị loét, chốc lở, vết thương, nhọt ở lợi, bệnh da, thấp khớp và sâu bọ cắn; nước sắc chồi non trị ho và ghẻ; nước sắc lá trị sốt và mày đay; nước rễ sác trị ho và sốt. Ở Nam và Trung Mỹ, nước sắc lá trị lỵ và trĩ, dịch ép lá uống chữa chảy máu bên trong; nước hãm lá dùng súc miệng trị viêm họng…

Bài thuốc có vòi voi:

1. Viêm phổi, viêm mủ màng phổi: Dùng 60 g cây tươi, đun sôi trong nước và uống với mật ong. Hoặc giã 60 - 120 g cây tươi lấy dịch và uống với mật.

2. Sưng amygdal: Dùng lá tươi nghiền ra lấy dịch súc miệng ngày 4 - 6 lần.

3. Chữa phong thấp nhức mỏi tê bại, đau các khớp xương, bán thân bất toại; vòi voi khô 300 g, rễ nhàu rừng 200 g, củ bồ bồ 150 g, cỏ mực 100 g. Các vị hiệp chung tán nhuyễn vò ra viên bằng hạt tiêu, mỗi lần uống 20 - 30 viên. Ngày 2 - 3 lần (Kinh nghiện ở An Giang).

4. Chữa vết thương phần mềm: Vòi voi 50 g, sài đất 200 g, tô mộc 20 g. Sắc nước rửa.

5. Chữa sai khớp, bong gân, sau khi đã chỉnh hình các khớp: Vòi voi 30 g, tỏi 1 củ, muối ăn 10 g. Tất cả giã nát đắp vào chỗ sưng tấy, băm chặt.

Đóng góp ý kiến